Nhà văn Iran - Alireza Mahmoudi Iranmehr - sinh năm 1974, được giải thưởng Bahram Sadeghi Prize với truyện ngắn “The Pink Cloud - Mây hồng”, dựa trên hiện thực cuộc chiến tranh Iran-Iraq. Cuộc xung đột tám năm này đã làm tổn thất khoảng một triệu người lính của cả hai quốc gia. “The Pink Cloud” là tập truyện ngắn nổi tiếng nhất của anh, được in năm 2010. Truyện ngắn “The Pink Cloud” dưới đây được Sara Khalili dịch từ tiếng Persian sang tiếng Anh, in trên Tạp chí Words Without Borders số tháng 7.2013. Bản dịch tiếng Việt theo bản tiếng Anh của Sara Khalili.
| Nhà văn Iran - Alireza Mahmoudi Iranmehr.
Vào buổi sáng ngày 24 tháng Mười hai năm 1981, trời lạnh, tất cả những gì tôi muốn là ngắm mây trời chuyển sang màu hồng lúc bình minh. Chúng tôi đang đi theo đội hình lên một ngọn đồi và tôi đang nhìn trời thì một loạt đạn xuyên vào ngực tôi. Tôi bật ngửa, phổi tôi bỏng rát và đầy máu, và ba phút sau, trong khi vẫn còn nhìn mây bây giờ có màu hồng và cam, tôi chết. Tôi không hề thấy người lính đã bắn tôi từ phía sau tảng đá trên đỉnh đồi. Có lẽ anh ta chỉ hai mươi tuổi, vì nếu như anh ta có kinh nghiệm, hẳn anh ta sẽ không chọn bắn một anh binh nhì khi có đến ba thượng sĩ và hai trung úy trong đội hình. Cha tôi luôn hy vọng tôi sẽ đi Úc và trở thành bác sĩ như anh tôi. Nhưng có lẽ tôi đã không có khả năng cho việc đó. Vào cuối mùa hè, ngay sau khi tôi nhận bằng tốt nghiệp trung học và phải trình diện ban quân sự, phi trường Tehran bị ném bom. Chiến tranh đã bắt đầu. Mẹ tôi bắt tôi ở nhà suốt chín tháng. Bà mua báo cho tôi mỗi ngày, và thỉnh thoảng vài cuốn sách. Cuối cùng thì tôi phát chán việc bị cầm chân trong nhà, bèn lập những kế hoạch để gặp Parvaneh trong công viên. Tôi quen nàng từ năm thứ hai bậc trung học và trong năm cuối cùng chúng tôi đã hứa trung thành với nhau mãi mãi. Parvaneh có mái tóc hung đẹp và luôn luôn đánh son bóng màu đồng. Tôi nhìn thấy mái tóc của nàng lần đầu tiên trong năm thứ ba trung học, vào một buổi chiều tôi đến nhà nàng lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng và thấy nàng không đội khăn quàng đầu. Tôi chưa đưa cho nàng chai nước hoa bên ngoài gói giấy quà mà tôi đã mua trên đường đến công viên và lá thư mà tôi đã mất chín tháng mới viết xong thì đội lính tuần tra bắt chúng tôi. Họ bắt chúng tôi lên sau xe của họ, tôi đã không nhận thức được tính trầm trọng của những việc xảy ra. Tôi chỉ ngồi đó nhìn móng tay của mình để mắt tôi không phải chạm mắt của Parvaneh. Với sự ồn ào náo động, họ đưa nàng về với cha mẹ nàng. Khi họ đưa nàng ra khỏi xe ở trước nhà nàng, một trong mấy người hàng xóm của gia đình nàng nhìn qua cửa sổ. Người đàn bà vẫn ngồi ở đó khi chúng tôi đi. Họ đưa tôi đến một trại tạm giam ở đâu đó phía nam thành phố. Tôi không biết chắc đó là đâu. Có người đã dùng một vật bén để khắc một trái tim lớn trên tường xà lim của tôi. Một bên trái tim bị nghiêng. Trong hai ngày tôi ngồi trên sàn duỗi chân ra nhìn ra cửa. Cuối cùng, người ta đến đưa tôi ra một đồn cảnh sát ở ven thành phố. Đồn được vây quanh bởi những bức tường gạch bên trên có rào kẽm gai. Cùng với một nhóm đàn ông đầu cạo trọc, tôi được đưa lên một xe ca chở thẳng đến trại huấn luyện tân binh. Mười sáu giờ sau thì chúng tôi xuống xe ca phía trước cổng trại, một viên trung sĩ bắt chúng tôi xếp hàng và bắt chúng tôi chạy quanh tòa nhà nhiều lần đến nỗi sau đó tôi rã rời cả tuần. Chúng tôi đều là thanh niên trốn quân dịch và bị cho là những người lính vắng mặt trái phép. Đến tối, sau khi cho chúng tôi ăn súp chân cừu, chúng tôi lại phải đứng sắp hàng và họ phát cho chúng tôi đồng phục lụng thụng như một cái bao. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy ba mẹ tôi là khi chiếc xe ca chạy quanh vòng xuyến Azadi trên đường đến trại huấn luyện. Cha mẹ tôi đang đứng bên một luống hoa. Họ vẫy tay với tôi và tôi vẫy lại. Những người kia cũng vẫy tay với họ. Cha mẹ tôi cười và bước tới một bước. Tất cả chúng tôi rời ghế chồm tới và tiếp tục vẫy tay. Tôi không biết làm thế nào họ biết giờ xe của chúng tôi chạy ngang qua vòng xuyến. Năm tháng sau thì những viên đạn xuyên vào ngực tôi, lá thư tôi đã mất chín tháng để viết vẫn còn cất trong túi quần. Họ đã tịch thu chai nước hoa gói giấy quà ở trại tạm giam. Trong nhiều giờ, tôi vẫn còn nằm trên đất kế bên một bụi cây khô trông giống như đầu một con ngựa và một tảng đá lớn có màu lạ. Mây hồng dần dần chuyển sang màu cam và vàng rồi biến mất. Toán quân chúng tôi đã lạc sâu vào khu vực của địch và khi những loạt đạn bắt đầu, không ai có thể mang tôi theo khi họ rút lui. Vào buổi chiều, người Iraq đến và đặt tôi lên một xe tải quân đội đưa tôi đến nhà xác. Họ lột tôi trần truồng và kiểm tra toàn bộ cơ thể tôi. Chắc họ nghĩ tôi là một điệp viên hay là ai đó, vì họ quyết định không chôn tôi. Trong bốn tuần lễ tôi vẫn còn nằm trong ngăn đựng xác làm bằng kim loại có một ngọn đèn huỳnh quang bên trong. Mỗi lần họ kéo ngăn mở ra thì ngọn đèn lại bật sáng. Họ đưa nhiều người đến nhìn tôi; một số bị còng tay, một số khác thì không. Nhưng không ai nhận biết tôi. Họ đều lắc đầu quay đi. Vào một trong những ngày cuối cùng tôi ở đó họ đưa đến hai xác đàn ông khác đặt trong hai ngăn đựng kế bên tôi. Mấy người này không còn móng tay và da họ bị đầy những vết bầm đen. Ba ngày sau họ đưa ba người chúng tôi vào một xe cứu thương có cửa sổ được sơn và đưa chúng tôi đến một nghĩa địa hoang vắng. Huyệt của chúng tôi đã được chuẩn bị trước. Họ ném tôi vào một cái huyệt và hai tù binh chiến tranh người Iran mặc đồng phục vàng lấp đất lên tôi. Rồi, bên trên tôi, họ làm một nấm mộ phù hợp với tôi. Nấm mộ được vây quanh bởi vô số nấm mộ khác. Không có tên người trên nấm mộ. Thay vì vậy, cắm trên mỗi nấm đất là một tấm ván xanh lá cây có khắc những con số màu trắng trên đó. Một hàng dài những cây bạch đàn tỏa bóng lên những nấm mộ. Trong những lá thư của anh tôi, anh luôn luôn viết, Australia đầy những cây bạch đàn và không có người Iran nào khác ở đó. Phía bên kia hàng cây mảnh mai là một tòa nhà bê tông hai tầng. Thỉnh thoảng người ở đó nhìn ra cửa sổ có thể thấy những tấm ván xanh. Ở phía đối diện với nghĩa địa có một nông trại lớn có một hàng rào kẽm gai phân cách với bên ngoài. Mỗi buổi sáng một chiếc xe tải mui trần đem những tù binh mặc đồ tù màu vàng đến làm việc ở đó, và vào buổi chiều, khi họ đi ngang qua nghĩa địa, tôi có thể nghe được tiếng nói Ba-tư. Ngày thứ tám mươi bảy, vào lúc hoàng hôn bóng những cây bạch đàn tỏa mát suốt con đường đến cuối nghĩa địa, ba người tù đã được đưa đến đó để đào những cái huyệt mới lén đến mộ tôi và chôn một củ hoa tulip kế bên tấm ván xanh của tôi. Tôi không biết họ lấy đâu ra củ hoa tulip. Chắc là họ đã nhầm tôi với người nào đó, một người nào rất quan trọng mà việc trồng một cây hoa tulip lên mộ sẽ làm họ thỏa mãn và hãnh diện. Từ ngày đó trở đi, những người tù binh chiến tranh làm việc ở nông trại kín đáo nhìn về chỗ tôi khi chiếc xe tải mui trần chạy ngang qua. Nhẹ nhàng, chầm chậm, củ hoa tulip đâm rễ và cành hoa vươn lên khỏi đất. Bảy ngày sau, ba người lính Iraq đi giày cột dây bó ống quần đến đứng trên nấm mộ tôi và nhổ cây tulip. Họ cũng bứng đi tấm biển xanh. Thậm chí họ ra lệnh cho xe ủi đất bứng trốc gốc mọi cây bạch đàn. Có lẽ họ muốn xóa sạch những gì đã trở thành thiêng liêng đối với những tù binh chiến tranh. Trong toàn bộ thời gian việc này diễn ra, có những tiếng la bằng tiếng A-rập và tiếng Ba-tư, giọng này lớn hơn giọng kia, vọng đến từ tòa nhà bê tông. Cuối cùng, họ đem máy xúc và đào tất cả chúng tôi ra khỏi đất và ném chúng tôi lên nhiều chiếc xe tải. Khi những chiếc xe tải chạy đi, tôi còn nghe được tiếng xe ủi san bằng chỗ còn lại. Một ngón tay trong bàn tay trái của tôi vẫn còn ở đó, trong đất. Những chiếc xe tải chạy không dừng cho đến xế chiều. Trước khi trời tối, chúng tôi đến một tiền đồn xa. Xe tải đậu trong sân. Những bức tường chung quanh đồn được quét vôi trắng. Ánh nắng chiều chiếu qua cổng đồn, tạo nên một mảng đỏ thẫm trên một trong những bức tường. Chúng tôi bị bỏ đó trong hai ngày và chiều nào mảng màu đỏ thẫm cũng hiện trên bức tường. Vào buổi sáng ngày thứ ba, những chiếc xe tải lại lên đường. Con đường dốc và gồ ghề. Gần tới trưa chúng tôi đến một thung lũng sâu vây chung quanh là rừng núi. Ở đó, họ ném chúng tôi vào một con hào sâu trông giống như một con kênh. Con kênh này đã chuẩn bị trước rồi. Xế chiều đó những chiếc xe tải khác đến và trút xuống một nhóm người vừa bị bắn bởi một đội hành quyết lên trên chúng tôi. Quần áo lụng thụng của họ bị thủng lỗ chỗ đẫm máu, và một số người vẫn còn chảy máu tươi. Rồi những chiếc xe ủi đến và ủi đất lấp hố. Một cái đầu phụ nữ rơi trên cổ tôi. Mái tóc hung nâu của chị lùm xùm quanh mặt và che đôi mắt. Một cái chân khẳng khiu xanh tái của một người đàn ông vắt qua ngực tôi và một cái miệng há hốc của một người đàn ông khác áp vào bụng tôi. Tôi đã rơi nghiêng trên ngực một người đàn ông, xương sườn của anh ta đã bể. Đống lộn xộn chúng tôi không kéo dài lâu. Sáu mươi lăm ngày sau một toán lính và sĩ quan đến, và trong tiết trời lạnh, đã đào đất để tìm chúng tôi. Rồi một số người họ, với khăn tay bịt miệng và mũi, nhanh chóng ném chúng tôi lên xe tải. Có lẽ có người đã rò rỉ vị trí của chúng tôi cho tổ chức nào đó và bây giờ họ phải xóa đi dấu vết chúng tôi ở đó. Vào lúc xe tải chạy đi, những người lính đang đổ xuống cái hố dài trống rỗng những cái vỏ xe cũ và lấp đất lại. Đêm ấy khi những chiếc xe tải chạy theo đường núi, có một mùi hương dễ chịu trong không khí. Đâu đó một người chăn cừu đã đốt một đống lửa. Xa hơn phía trước, trên một triền dốc khác, một dãy thùng nuôi ong nổi lên trong ánh trăng. Không khí đầy tiếng côn trùng và mùi hương hoa dại. Nếu như Parvaneh và tôi cùng nhau ở đó, hẳn chúng tôi sẽ thức suốt đêm. Chúng tôi sẽ nằm dài trên một cái giường có trải ga sạch và ngắm những con bọ tỏa sáng ban đêm nhấp nháy bay vào phòng chúng tôi qua khung cửa sổ mở. Bầu trời kéo mây và bắt đầu mưa. Tôi nằm ở trên và xương tôi bị ướt. Vào buổi sáng khi mặt trời đỏ thẫm đang mọc lên sau những hàng cây trên đỉnh núi, chúng tôi đến một nơi người ta đang đợi chúng tôi. Những chiếc xe tải đổ xuống một ngọn đồi và một bình nguyên thoáng đãng hiện lên trong ánh sáng nhạt. Những cái hố nhiều không thể đếm nổi đã được đào trong đất làm cho nơi này trông giống một tầng tổ ong. Khi mặt trời lên, nhiều người đeo khẩu trang đến và ném chúng tôi vào các huyệt mộ. Họ không muốn chạm tới chúng tôi. Họ có những cái xẻng dài dùng để đẩy chúng tôi cho tới khi chúng tôi rơi vào một cái hố. Họ ném bàn tay của ai đó vào huyệt của tôi. Có một chiếc nhẫn rỉ sét trên ngón tay đeo nhẫn của bàn tay đó. Hàm răng của người đàn ông đã ở bên tôi trên xe tải đã rơi ra khỏi miệng anh ta. Một trong những người lính vội vã đá nó bằng mũi giày ủng và nó cũng, rơi vào huyệt của tôi. Hàm răng đã hóa đen và bám máu khô. Móng tay trên bàn tay đeo nhẫn đã chuyển màu xanh sẫm. Một chốc sau đó họ cũng ném vào huyệt tôi khúc xương ống chân của ai đó. Có một cục bướu ở giữa nó, như thể nó đã bị dán keo vào đó. Bất kể khúc xương chân là của ai thì cũng chắc là nó đã bị gãy từ lúc nào đó. Nhưng tôi thì không bị gãy gì, vì mẹ tôi luôn lo sợ và từ hồi tôi còn nhỏ bà đã cẩn thận không cho tôi chơi những trò chơi nguy hiểm. Điều rõ ràng là những huyệt mộ đã được đào vội vã. Cái huyệt của tôi, một trong bốn bức vách bị xéo và nền gồ ghề. Nếu như họ đã xúc ra thêm vài xẻng đất nữa thôi, nhất định họ sẽ thấy một nền mộ cổ chỉ sâu hơn không đầy ba tấc trong đất. Ngay bên dưới tôi là nơi yên nghỉ của một hoàng tử người Assyria có hai bàn tay đang nắm một thanh kiếm đồng trước ngực. Nếu như ông ta nâng kiếm lên trên một chút, thì đầu mũi kiếm sẽ đâm vào giữa hai xương chậu của tôi. Giống như lần đầu tiên, họ làm một nấm mộ trên huyệt của tôi và cắm một tấm biển có những con số trắng trên mộ. Trời mưa vào ngày hôm sau và hai tuần sau cây cỏ bắt đầu mọc. Những hạt giống dại chết và tái sinh nhiều lần. Tôi nằm đó trong hai ngàn tám trăm sáu mươi bốn ngày. Rễ những cây hoa dại treo từ vách huyệt tôi và vị hoàng tử Assyria vẫn đang cầm kiếm áp sát ngực. Rồi một ngày, lại một nhóm người mang xẻng đến, mở các huyệt ra và ném chúng tôi vào những cái bao trắng và ghim những con số vào đó. Họ chồng các bao lên những chiếc xe tải màu vàng và lái đi suốt đêm. Chúng tôi đang trở về nhà. Chúng tôi vẫn còn trên đất địch, nhưng bầu trời Iran có thể trông thấy được ở xa xa. Trời tối vào lúc chúng tôi đến biên giới. Ở một tiền đồn trên đất Iran, nhiều chiếc xe tải lớn đậu dưới ánh đèn trên những trụ cao. Họ đang đợi chúng tôi. Nếu cha hay mẹ tôi hay Parvaneh biết rằng tôi đang trở về, hẳn họ sẽ ở đó để đón tôi. Nhưng không có ai ở đó. Cũng giống như lúc chúng tôi gom củi để đốt lửa trại kỷ niệm ngày thứ tư cuối cùng trong năm, nhưng mưa vào buổi chiều làm củi ướt và mọi người về nhà. Không có ai ở đó. Họ chất chúng tôi lên xe tải đưa ra phi trường. Họ đưa tôi lên một máy bay, cùng tất cả trọng lượng vượt trội do xương những người lạ bị ném lên tôi, chúng tôi cất cánh. Khi chúng tôi đáp xuống Tehran, trời đầy mây. Họ đưa chúng tôi vào một nhà chứa máy bay lớn ở phi trường Mehrabad - chính là nơi đã bị đánh bom vào ngày tôi nhận bằng trung học. Rồi họ đóng cửa nhà chứa máy bay lại và lấy chúng tôi ra khỏi những cái bao có đánh số. Nhà chứa máy bay đầy những chiếc quan tài giống nhau và những người lính bắt đầu cẩn thận đặt chúng tôi vào đó. Có một nhóm người đang đứng cạnh đó, khóc. Khi họ chuyển dời chúng tôi xong, họ phủ một lá cờ lớn lên mỗi quan tài và dán một tấm ảnh lên đầu mỗi quan tài. Họ dán tấm ảnh một thanh niên có bộ ria mép mỏng lên quan tài tôi. Trong đời tôi chưa hề để ria mép. Hiển nhiên là ở nơi nào đó trên đất địch, tôi đã bị cho một con số sai. Những viên sĩ quan mặc đồng phục vừa vặn có cầu vai đỏ mang từng cái quan tài ra sắp xếp trên một mặt bằng rộng bên ngoài nhà chứa máy bay. Một đám đông tụ tập ở đó. Nhiều người khóc và một số thì cầm những bức ảnh những thanh niên đặt trong khung đưa cao lên. Cha mẹ tôi không có trong số người đó và cũng không có dấu vết gì của Parvaneh. Nếu tôi còn khuôn mặt có lẽ có người nào đó sẽ nhận ra tôi. Có nhiều người quay phim tất cả mọi chuyện. Có một người đàn ông đang đứng trên một bục cao phía sau những quan tài, đang đọc diễn văn với đám thính giả. Có một khuôn mặt quen thuộc - đó là một tấm ảnh hình một thanh niên đang cười có mái tóc màu hạt dẻ. Đó là ảnh tôi. Một bà già đội khăn quàng đầu màu nâu đang cầm ảnh đưa lên cao bên trên đầu bà. Tôi nhận ra bà là mẹ tôi. Bà đã gầy đi và trở nên quá già. Cha tôi không có ở đó. Ba mẹ tôi đã ở bên nhau ngày họ vẫy tay chào tôi ở vòng xuyến Azadi. Chắc cha tôi đã chết, nếu không thì ông sẽ không để mẹ tôi đi một mình. Khi bài diễn thuyết và quay phim kết thúc, họ đặt những chiếc quan tài lên xe và chạy đi. Khi những chiếc xe chạy quanh vòng xuyến Azadi, khách đi đường dừng lại bên những luống hoa và nhìn cuộc diễu hành. Họ đưa tôi đến một tòa nhà cũ có một cái hồ lấp lánh trong sân trước. Một cái giường gỗ đã được đặt bên ngoài dành cho tôi và vây quanh nó có nhiều chậu cây phong lữ mà mùi hương của chúng thậm chí có thể làm một con ong cũng chóng mặt. Cho tới khi đêm đến, nhiều người đến, đặt trán họ lên quan tài, khóc, rồi đi. Chỉ có một bà già lúc nào cũng ở đó. Chiếc mũi lớn của bà đỏ lên vì khóc. Bà không khác chút nào với mẹ tôi khi bà khóc. Có lẽ mọi người đều giống nhau khi họ trào nước mắt. Cứ vài phút bà già lại đứng dậy và hôn góc quan tài của tôi. Một vài lần bà cố mở nắp áo quan, nhưng người ta giữ bà lại và bắt bà ngồi xuống chiếc ghế da màu đen. Sáng hôm sau họ đặt quan tài tôi vào sau chiếc xe hôm qua và đưa nó đến một ngọn đồi đẹp vây quanh bởi nhiều cây cổ thụ ở bên ngoài thành phố. Họ đã đào những huyệt mộ lớn, đẹp dành cho chúng tôi. Trước khi đặt tôi vào huyệt mộ của mình, họ mở quan tài. Một vài người đang ôm bà già, nhưng việc đó không cần thiết, bà không cử động được chút nào. Bà đang nhìn vào chiếc nhẫn rỉ trên xương ngón tay của bàn tay đó. Thậm chí bà không khóc. Họ chôn tôi rất cẩn thận và đặt một bia đá đen đẹp lên nấm mộ. Rồi họ đặt khung ảnh của người thanh niên có hàng ria mép mỏng lên một giá đựng phía trước đầu mộ. Bà già vẫn đang đứng đó, nhìn bia đá. Họ đã mang đến một cái ghế cho bà ngồi; chắc là bà bị thấp khớp. Giống như ngày hôm trước, một đám đông đã tụ tập và các người quay phim quay lễ an táng. Cũng có một cái bục, và một người đọc diễn văn. Hôm ấy trời nhiều mây và đèn flash từ những máy ảnh lóe lên trong không gian như ánh chớp. Rồi mọi người về. Họ đưa bà già đi với họ. Từ đây, người ta có thể nhìn thấy Tehran xa xa. Khoảng xa đến mức tôi không nhìn thấy nhà của Parvaneh. Lá thư mà tôi mất chín tháng để viết có thể nằm ở đâu đó ở Iraq. Chai nước hoa chắc là được chôn đâu đó trong đống rác. Nếu ngày nào Parvaneh đến đây để tìm chút không khí trong lành, tôi sẽ biết nàng môi có còn bôi son bóng màu đồng hay không. Mùa này trời dễ chịu. Thời tiết đôi khi nắng, thỉnh thoảng mưa. Có một đám mây lớn trên trời, trên tầng mây đã chuyển màu hồng. Một con bướm màu cam đang đậu trên bông hoa dại màu vàng. Giờ thì nó bay đi về phía hàng cây cổ thụ. |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét